03-09-2026VNINDEX1827.72
-4.40-0.24% HNXIndex282.24
-2.53-0.89% UPCOM127.78
0.280.22% VN301961.57
-21.39-1.08% VN1001874.2
-17.24-0.91% HNX30459.41
-6.47-1.39% VNXALL2902.23
-25.52-0.87% VNX503285.12
-37.43-1.13% VNMID1956.77
-18.42-0.93% VNSML1254.09
-9.30-0.74% Fed có tăng lãi suất khi Thị trường trái phiếu toàn cầu đang thắt chặt ?

03-09-2026
: VDS
: Vĩ mô
: VDSC
Tags:
- Thị trường tài chính toàn cầu đang bước vào một giai đoạn tái đinh giá (repricing) phức tạp hơn nhiều so với một chu kỳ thắt chặt tiền tệ thông thường. Điều đáng chú ý nhất không nằm ở một quốc gia riêng lẻ mà nằm ở việc lợi suất trái phiếu chính phủ đang đồng loạt tăng lên những vùng chưa từng thấy trong nhiều năm, thậm chí nhiều thập kỷ.
- Đây là điều khiến câu chuyện hiện tại khác với một đợt bán tháo trái phiếu (bond sell-off) thông thường. Các quốc gia có cấu trúc kinh tế, lạm phát và chính sách tiền tệ rất khác nhau nhưng lợi suất TPCP kỳ hạn dài (long-term yields) lại đang cùng tăng. Điều đó cho thấy đây không còn đơn giản là câu chuyện "lạm phát tăng, NHTW tăng lãi suất". Thị trường trái phiếu toàn cầu hiện đang phản ánh một “tập hợp” rộng hơn gồm sự bất định của lạm phát (inflation uncertainty), lợi suất thực cao hơn (higher real yields), sự gia tăng phần bù kỳ hạn (rising term premium), thâm hụt tài khóa (fiscal deficits) và lượng TPCP ngày càng tăng (government bond supply). Nói cách khác, thị trường trái phiếu đang tự thực hiện một phần quá trình thắt chặt.
- Trong bối cảnh đó, nếu Fed tăng lãi suất thì câu chuyện không đơn giản chỉ là cộng thêm 25bps vào Fed Funds Rate. Nó có thể củng cố kỳ vọng rằng các NHTW lớn đang cùng bước vào một chu kỳ thắt chặt đồng bộ, khiến lợi suất TPCP kỳ hạn dài có thể tiếp tục tăng, phần bù kỳ hạn (term premium) có thể tiếp tục mở rộng và áp lực lên thị trường vốn có thể lớn hơn. Đây là lý do chúng tôi cho rằng Fed hiện tại có thể không cần phải tăng lãi suất, ngay cả khi rủi ro lạm phát chưa hoàn toàn biến mất. Trái lại, lựa chọn hợp lý nhất có thể là giữ nguyên lãi suất như hiện nay nhưng “tone” phát biểu chính sách là diều hâu.
- Đối với Việt Nam, vấn đề thanh khoản hệ thống ngân hàng trở nên đáng chú ý hơn khi xét đến sự thay đổi về kỳ hạn của nguồn vốn. Khi tỷ trọng nguồn vốn dài hạn gia tăng, chi phí huy động thực tế có thể cao hơn đáng kể so với mức được phản ánh đơn thuần qua mặt bằng lãi suất huy động bình quân và áp lực thanh khoản sẽ không chỉ tồn tại ở kỳ hạn dài mà có khả năng lan sang cả kỳ hạn ngắn. Vấn đề khi đó không còn đơn thuần là câu chuyện về mặt bằng lãi suất, mà trở thành vấn đề về cấu trúc và khả năng luân chuyển của nguồn vốn trong toàn hệ thống.

Bất động sản – Luật phát triển đô thị

03-09-2026
: KDH, NLG, HDC, BCM, VHM, VIC, PHR, GVR, SIP, DPR, TRC
: Bất động sản, BĐS KCN
: VDSC
Tags: Bất động sản Luật phát triển đô thị
- Quốc hội thông qua Luật Phát triển đô thị ngày 24/8 (465/474 phiếu), TP.HCM có hiệu lực sớm từ 1/9/2026 và hiệu lực chung từ 1/10/2026. Luật không tạo ra chính sách bất động sản mới mà chuyển thẩm quyền quyết định từ trung ương về TP.HCM và bổ sung một số cơ chế thí điểm có thời hạn từ NQ98, NQ171, NQ201 thành thể chế thường trực.
- Chúng tôi nhận thấy hai kênh có ảnh hưởng trực tiếp nhất tới doanh nghiệp bao gồm: 1/ Quyền chấp thuận chủ trương đầu tư kèm cơ chế tháo gỡ vướng mắc dự án, 2/ Quyền quyết định chỉ tiêu sử dụng đất và tách giải phóng mặt bằng thành dự án độc lập.
- Theo đánh giá của chúng tôi, các doanh nghiệp VHM/VIC, KDH, BCM, PHR là nhóm hưởng lợi rõ nhất nhờ quỹ đất tập trung trong địa giới TP.HCM sau sáp nhập, trong khi NLG hưởng lợi gián tiếp qua cơ chế điều phối vùng Đông Nam Bộ. Chúng tôi đánh giá tích cực về hướng đi dài hạn nhưng giữ quan điểm trung lập về định lượng cho tới khi HĐND TP.HCM thông qua khoảng 78–101 nghị quyết thi hành trong tháng 9.

Ngành giấy bao bì Việt Nam: Từ thanh lọc công suất đến chu kỳ đầu tư mới

28-08-2026
: DHC
: Nguyên vật liệu
: VDSC
Tags:
- Quá trình thanh lọc công suất đã cải thiện cán cân cung – cầu giấy bao bì trong giai đoạn 2025–2026. Khoảng 2 triệu tấn/năm công suất sản xuất giấy tại Bắc Ninh bị đình chỉ trong năm 2025, trong khi tiêu thụ giấy bao bì tăng 13% YoY lên mức 6,7 triệu tấn, qua đó hỗ trợ mặt bằng giá giấy duy trì ở vùng cao.
- Chu kỳ đầu tư mới đang từng bước bù đắp khoảng trống nguồn cung và định hình lại cấu trúc ngành. Công suất mới tập trung tại các nhà máy quy mô lớn hơn, trong khi theo Hiệp hội Giấy Và Bột giấy Việt Nam (VPPA), công suất thiết kế giấy bao bì dự kiến tăng từ 5,74 triệu tấn năm 2025 lên 7,94 triệu tấn năm 2027 và khoảng 9,38 triệu tấn vào năm 2030.
- Nhu cầu tăng trưởng tích cực hỗ trợ khả năng hấp thụ công suất mới, nhưng áp lực cạnh tranh có thể gia tăng từ năm 2027. VPPA kỳ vọng tiêu dùng giấy bao bì và tissue tăng bình quân khoảng 8–10%/năm trong giai đoạn 2026–2030. Tuy nhiên, khi công suất mới được đưa vào vận hành, khả năng hấp thụ nguồn cung sẽ trở thành yếu tố quan trọng quyết định diễn biến giá và mức độ cạnh tranh của ngành.

NT2– Kết quả kinh doanh Q2/2026: Biên lợi nhuận thu hẹp khi Tỷ tỷ lệ sản lượng hợp đồng giảm, tạo áp lực lên biên gộp

27-08-2026
: NT2
: Năng lượng
: VDSC
Tags: NT2
- Q2/2026, Nhơn Trạch 2 (NT2:HSX) ghi nhận doanh thu thuần đạt 2.825 tỷ đồng (+36% svck), lợi nhuận sau thuế - cổ đông mẹ (LNST-CĐM) đạt 308 tỷ đồng (-6% svck); hoàn thành 60%/113% kế hoạch doanh thu và kế hoạch LNTT của Công ty. Sản lượng phát điện (Qm) đạt 1.196 triệu kWh, tăng 54% svck.
- Biên lợi nhuận gộp giảm 5 điểm % svck, do (1)Sản lượng hợp đồng (Qc) chỉ tăng 8% svck, tỷ lệ Qc/Qm giảm 42% điểm % svck, khiến cho nhà máy không còn được nhận doanh thu từ hợp đồng chênh lệch CfD và tạo áp lực lên sản lượng bán ngoài Qc; (2) điều chỉnh hạch toán chi phí sửa chữa bảo dưỡng theo hướng dẫn của Bộ Tài chính.
- Cho cả năm 2026, chúng tôi dự phóng doanh thu thuần của NT2 có thể đạt 9.573 tỷ đồng (+23% svck), với tổng sản lượng phát điện trong năm đạt 4.073 triệu kWh (+31% svck). LNST-CĐM ước đạt 873 tỷ đồng (-17% svck), biên gộp của NT2 có thể giảm về 10,5% (-3,5 điểm % svck) khi công ty không còn ghi nhận tỷ lệ Qc/Qm > 100% như trong năm 2025.

THG – KQKD 6T/2026: Áp lực ngắn hạn, điểm rơi lợi nhuận kỳ vọng chuyển dịch sang nửa cuối năm

26-08-2026
: THG
: Nguyên vật liệu
: VDSC
Tags: Bê tông
- KQKD 6T2026 dưới kỳ vọng, biên lợi nhuận bê tông là điểm sáng: Lũy kế 6T2026, doanh thu đạt 1.003 tỷ VND (-12% svck) và LNST công ty mẹ đạt 59 tỷ VND (-15% svck), lần lượt hoàn thành 39% và 37% kế hoạch năm – thấp hơn kỳ vọng của chúng tôi do mảng bê tông yếu trong Q1 và bất động sản dân dụng yếu trong Q2. Bù lại, biên gộp mảng bê tông & VLXD đạt 23,5% trong Q2/2026 (+2,6 pps QoQ; +3 pps YoY) – mức cao trong giai đoạn 2019-2026, phản ánh khả năng tăng giá bán và quản lý tồn kho tốt; biên gộp chung đạt 21,2% trong khi biên ròng giảm xuống mức 5,0%.
- Quan điểm định giá: Chúng tôi kỳ vọng KQKD nửa cuối năm cải thiện nhờ giai đoạn cao điểm xây dựng, nhu cầu bê tông đúc sẵn cho các dự án hạ tầng và việc hạch toán doanh thu từ cụm công nghiệp Gia Thuận 2. Sau khi chiết khấu khoảng 28% kể từ tháng 6/2026, cổ phiếu đang giao dịch tại PE và PB trailing 7,5 và 1,3 lần – thấp hơn trung bình 5 năm, từ đó có thể có dư địa cải thiện định giá.

DRC – Bất lợi vĩ mô toàn cầu tác động lớn tới triển vọng kinh doanh 2026

25-08-2026
: DRC
: Xe hơi và phụ tùng
: VDSC
Tags:
- KQKD DRC Q2-2026 vượt kỳ vọng chuyên viên 22% với doanh thu thuần đạt 1.176 tỷ đồng (+1,8% svqt, -14,6% svck), lợi nhuận sau thuế đạt 32 tỷ đồng (+95,5% svqt, đi ngang svck) do vẫn hưởng lợi tồn kho giá rẻ từ Q1-2026 tới nay. Giá NVL đưa vào sản xuất, tiếp đà thuận lợi svck như cao su tự nhiên (-3,3% svck), cao su tổng hợp (+1,5% svck), hóa chất như lưu huỳnh & silica (-0,7% svck), muội than đen (-14,1% svck), thép tanh (-6,4% svck). Việc DRC duy trì chính sách tồn kho ba tháng giúp đà giảm của nguyên liệu phản ánh vào biên lợi nhuận gộp nhanh (độ trễ tầm một quý).
- DRC đang giao dịch ở vùng định giá hợp lý với PE trượt 13,0x và PE dự phóng 2026 15,5x, phù hợp với trung bình ngành 13,0x, đặc biệt khi lợi nhuận sau thuế của Công ty dự kiến tăng trưởng âm 22% cho 2026 (theo quan điểm chúng tôi) do động lực (lốp bias nội địa theo SXCN), chưa đủ bù đắp áp lực giá cao su / lưu huỳnh / thép & phải thu khó đòi ở thị trường quốc tế đẩy biên lợi nhuận về vùng đáy 15 năm. DRC cũng công bố kế hoạch kinh doanh Q3-2026 phù hợp quan điểm trên của chúng tôi với doanh thu thuần 1.132 tỷ đồng (-3,7% svqt, -8,3% svck), LNTT 30 tỷ đồng (-25,0% svqt, -40,2% svck).

Mua hẳn miễn truy đòi bộ chứng từ theo thư tín dụng do chính ngân hàng phát hành – Kênh tài trợ thương mại nằm ngoài room tín dụng và phân loại nợ

24-08-2026
: SHB, CTCB2201, MBB, VPB, HDB, VCB
: Ngân hàng
: Tung Do
Tags:
- Từ quý 4/2024, một khoản mục mới đồng loạt xuất hiện trong Tài sản có khác trên bảng cân đối của nhiều NHTM: phải thu từ nghiệp vụ mua hẳn miễn truy đòi bộ chứng từ theo thư tín dụng (L/C) do chính ngân hàng phát hành. Đây là biến thể tự tài trợ của forfaiting, trong đó ngân hàng vừa phát hành L/C vừa bỏ vốn mua lại bộ chứng từ theo chính L/C đó.
- Quy mô nhóm ngân hàng có công bố số liệu tăng hơn gấp đôi sau sáu quý, từ khoảng 75.000 tỷ đồng cuối 2024 lên gần 158.000 tỷ đồng tại Q2/2026 - tương đương khoảng 92% mức đỉnh của số dư UPAS L/C giai đoạn 2022. Riêng SHB và TCB chiếm gần hai phần ba quy mô toàn nhóm tại thời điểm cuối Q2/2026.
- Diễn biến này gắn với hai văn bản cùng có hiệu lực từ 01/7/2024. Thông tư 21/2024/TT-NHNN quy định về nghiệp vụ L/C siết hoạt động UPAS L/C (thư tín dụng trả chậm có điều khoản trả ngay), buộc tính số dư vào tổng mức dư nợ cấp tín dụng sau khi bên thụ hưởng được thanh toán theo cam kết của L/C — trước đó hoạt động này không bị coi là cấp tín dụng và không hạch toán như một khoản cho vay. Cùng ngày hiệu lực, Thông tư 31/2024/TT-NHNN quy định về phân loại tài sản có loại trừ hoạt động mua hẳn miễn truy đòi BCT theo L/C do chính ngân hàng phát hành khỏi phạm vi phân loại nợ và trích lập dự phòng cụ thể. Kết quả là công cụ tài trợ thương mại UPAS L/C bị siết, trong khi công cụ thay thế vẫn nằm ngoài hệ thống giám sát tín dụng.
- Quan điểm của chúng tôi: Đây là hoạt động hợp pháp theo hướng dẫn của NHNN. Tuy nhiên, bản chất rủi ro tín dụng đối với bên đề nghị mở L/C không biến mất mà chỉ đổi vị trí trên bảng cân đối: ở vị trí mới, khoản mục không nằm trong hạn mức tăng trưởng tín dụng, không phải phân nhóm nợ, không phải trích lập dự phòng và không được tính trong các tỷ lệ thanh khoản. Chúng tôi cho rằng (i) tăng trưởng tín dụng, chất lượng tài sản và thanh khoản của nhóm ngân hàng có tỷ trọng cao cần được đọc ở dạng điều chỉnh, và (ii) khả năng NHNN thu hẹp ngoại lệ tại Thông tư 31 là rủi ro chính sách nên được định giá vào luận điểm đầu tư.

FRT – “Nấc thang” biên lợi nhuận mới từ chuỗi Long Châu sau KQKD 2Q26

21-08-2026
: FRT
: Bán lẻ
: VDSC
Tags: FRT
- FRT đạt KQKD 2Q26 ấn tượng với doanh thu thuần 15.626 tỷ đồng (+37,2% svck) và LNST-CTM 341 tỷ đồng (+187,8% svck). Long Châu đóng góp phần lớn vào tăng trưởng lợi nhuận với 340 tỷ đồng (+133% svck), tương ứng biên LNST-CTM 3,1% (+1,2pp svck) – mức kỷ lục mới của chuỗi. Trong khi, chuỗi FPT Shop gần như không có lãi do bị bào mòn bởi chi phí lãi vay (+99,3% svck) và hạn chế trong khả năng điều chỉnh giá bán lẻ trước các đợt tăng giá đầu vào.
- FRT đang giao dịch ở mức PE trailing 22,5x, cao hơn mức trung bình ngành bán lẻ 15,0-18,0x nhưng thấp hơn trung bình 5 năm của Công ty (30,3x), cho thấy thị trường đã phản ánh trước đáng kể kỳ vọng cho sự vươn lên của chuỗi Long Châu ở giai đoạn ba năm gần đây, qua đó chững lại nhịp tăng giá cổ phiếu một năm qua. Mặc dù vậy, chúng tôi vẫn đánh giá cao FRT nhờ vị thế bành trướng của chuỗi Long Châu theo thời gian trong ngành bán lẻ dược phẩm cả về quy mô & biên lợi nhuận, đi kèm một vài câu chuyện mới như sự phục hồi của FPT Shop, tiềm năng sinh lời của trung tâm tiêm chủng, sẽ phản ánh lên lợi nhuận Công ty các năm tới. Với mức đóng góp và khả năng cải thiện lợi nhuận tích cực hơn dự kiến từ Long Châu trong 2Q26, chúng tôi nhận thấy dư địa điều chỉnh tăng dự phóng 2026 và sẽ cập nhật chi tiết trong các báo cáo tới.

OCB - Tín dụng bứt tốc là điểm sáng, tuy nhiên nợ nhóm 2 gia tăng gây áp lực lên NIM và chất lượng tài sản

20-08-2026
: OCB
: Ngân hàng
: Trang Tô
Tags:
- LNTT Q2/26 của OCB đạt hơn 1,2 nghìn tỷ đồng, tăng trưởng mạnh svck (+25% YoY). Theo đó, LNTT 1H2026 đạt gần 2,5 nghìn tỷ đồng (+31% YoY), mới chỉ hoàn thành 38% dự phóng cả năm. KQKD Q2/26 đáng chú ý với tổng thu nhập hoạt động tăng trưởng tích cực (+18% QoQ, +21% YoY), được đóng góp chủ yếu bởi (1) tín dụng bứt tốc trong Q2, đạt 11% YTD (Q1/26: 2,6% YTD) và (2) nguồn thu nhập ngoài lãi mở rộng đáng kể (+100% QoQ, +47% YoY). Tuy nhiên, OCB phải đối mặt với rủi ro chất lượng tài sản khi dư nợ nhóm 2 tăng 32% QoQ gây áp lực lên NIM và chi phí trích lập dự phòng.
- Trong 2H2026, mặc dù ngân hàng đã sử dụng hết hạn mức tín dụng được cấp đầu năm (~11%) và khả năng được nới thêm hạn mức không cao, NIM có thể trở thành động lực chính thúc đẩy tăng trưởng thu nhập lãi trong 2H. Cụ thể, các chỉ số thanh khoản tính đến cuối Q2/26 còn dư địa (LDR 74% so với ngưỡng trần quy định 85% và SMLR gần 30% so với ngưỡng trần quy định mới 40%), tạo điều kiện để ngân hàng mở rộng danh mục cho vay trung dài hạn. Bên cạnh đó, kế hoạch thu hồi nợ xấu với quy mô hơn 1 nghìn tỷ (bao gồm nợ nội bảng) là một yếu tố hỗ trợ NIM cải thiện.
- Dự phóng năm 2026F hiện tại: LNTT đạt gần 6,5 nghìn tỷ đồng, tương đương tăng 29% YoY. Trong đó, tổng thu nhập hoạt động, chi phí hoạt động và chi phí trích lập dự phòng 1H2026 đã hoàn thành lần lượt 43%, 43% và 57% dự phóng cả năm của chúng tôi. Định giá của cổ phiếu OCB hiện ở mức 11.650 đồng/cổ phiếu, tương đương tỷ suất sinh lời 7% so với giá thị trường hiện tại. Chúng tôi sẽ cập nhật kết quả dự phóng và định giá trong các báo cáo tiếp theo.

GMD – KQKD bứt phá nhờ động lực kép từ tăng trưởng hoạt động cốt lõi và thoái vốn

19-08-2026
: GMD
: Cảng biển
: VDSC
Tags:
- Trong Q2-FY26, doanh thu và LNST cổ đông công ty mẹ (LNST-CĐM) của GMD lần lượt 1.762 tỷ đồng (+18% YoY) và 1.133 tỷ đồng (+153% YoY). Sản lượng xếp dỡ container tại các cụm cảng chính là Nam Đình Vũ, Bình Dương & Phước Long PIP và Gemalink lần lượt đạt 350 nghìn TEU (-10% YoY), 421 nghìn TEU (+5% YoY) và 577 nghìn TEU (+27% YoY).
- Điều chỉnh tăng dự phóng cho năm 2026, doanh thu thuần và LNST-CĐM lần lượt đạt 6.694 tỷ đồng (+12% YoY) và 2.620 tỷ đồng (+49% YoY) tương ứng cao hơn 6%/17% so với dự phóng trước đó do GMD có các giao dịch chuyển nhượng vốn trong Q2-FY26. Chúng tôi khuyến nghị TÍCH LŨY với giá mục tiêu 92.600 VNĐ/cổ phiếu cùng cổ tức tiền mặt là 2.200 VNĐ/cổ phiếu, tương ứng với tỷ suất sinh lời kỳ vọng 19% dựa trên giá đóng cửa ngày 18/08/2026.

ANV – KQKD Q2/2026 bị ảnh hưởng do chi phí đầu vào tăng cao trong khi giá bán giảm

18-08-2026
: ANV
: Thủy sản
: VDSC
Tags:
- Doanh thu thuần Q2/2026 đạt 1.937 tỷ đồng (+12% svck) và Lợi nhuận sau thuế công ty mẹ (LNST CTM) đạt 134,8 tỷ đồng (-59% svck). Doanh thu tăng chủ yếu nhờ sản lượng cá tra 17.812 tấn (+21% svck) và cá rô phi 4.802 tấn (+59% svck) trong khi giá cá rô phi giảm 17% svck. Cơ cấu thị trường tiếp tục chuyển dịch rõ nét khi cá tra đẩy mạnh xuất khẩu sang Thái Lan (tỷ trọng sản lượng hàng bán tăng lên 24% từ 15%), giảm tại Mexico và Trung Quốc, còn cá rô phi tập trung vào Brazil (64% tỷ trọng sản lượng) và Mỹ (27% tỷ trọng sản lượng).
- Biên gộp Q2/2026 giảm còn 16% từ mức 28% cùng kỳ do chi phí bột cá tăng 63% svck trong khi giá bán cá rô phi giảm -17% svck xuống 4,1 USD/kg. Chi phí bán hàng Q2/2026 đạt 119,4 tỷ đồng (+26% svck) và chi phí quản lý tăng 20% svck lên 21 tỷ đồng và hoạt động tài chính ghi nhận lỗ ròng 13 tỷ đồng.
- Cho Q3/2026, chúng tôi dự phóng doanh thu thuần đạt 2.215 tỷ đồng (+11% svck, +14% svqt) nhờ sản lượng cá tra 22.194 tấn (+10% svck) với giá bán 2,2 USD/kg (+12% svck) và sản lượng cá rô phi 4.802 tấn (+39% svck) dù giá cá rô phi giảm 21% xuống 4,0 USD/kg. Lợi nhuận gộp đạt 332 tỷ đồng (-32% svck) với biên gộp ước tính còn 15% (-940 bps svck) do giá vốn tăng 10% svck với giá bột cá ước tính tăng 54% svck và giá bã đậu tương ước tính tăng 10% svck. Ngoài ra, chi phí bán hàng cũng tăng 13% svck do giá cước tăng cao. Từ đó, LNST CTM ước đạt 147 tỷ đồng (-48% svck, +9% svqt).
- Cho cả năm 2026, chúng tôi điều chỉnh giảm dự phóng doanh thu từ mức 8.382 về 8.250 tỷ đồng (+19% svck) và LNST CTM từ mức 1.087 tỷ đồng về 700 tỷ đồng (-30% svck). Từ đó, EPS và BVPS năm 2026 đạt lần lượt 2.626 đồng/cp và 15.511 đồng/cp. Giá mục tiêu ngắn hạn năm 2026 theo P/B mục tiêu 1,57x (trung bình 2021-2025) là 24.400 đồng/cp. Kết hợp với cổ tức tiền mặt 500 đồng trong 12 tháng tới, tổng mức sinh lời là 48% tại giá thị trường ngày 18/08/2026, tương ứng khuyến nghị MUA. Giá mục tiêu dài hạn sẽ được cập nhật vào báo cáo kế tiếp.

PHR – Thu nhập bồi thường tại VSIP III và Bắc Tân Uyên 1 chậm hơn kỳ vọng

17-08-2026
: PHR
: BĐS KCN, Hóa chất
: VDSC
Tags: PHR
- Trong Q2/2026, PHR ghi nhận doanh thu thuần đạt 406,3 tỷ đồng (-13,4% QoQ, +10,4% YoY) và LNST-CĐM đạt 364,1 tỷ đồng (tăng 3 lần YoY), nhờ mảng cao su hưởng lợi từ giá bán cao và chi phí quản lý giảm mạnh. Dù vậy, tổng LNST-CĐM thấp hơn dự phóng do tiến độ ghi nhận khoản thu nhập đền bù đất từ các dự án VSIP III và Bắc Tân Uyên 1 chậm hơn kỳ vọng.
- Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, LNST-CĐM đạt 643,4 tỷ đồng (+245% YoY). Chúng tôi tiếp tục duy trì dự phóng LNST-CĐM cả năm 2026 đạt 2.067 tỷ đồng (+303% YoY) nhờ kỳ vọng phần bồi thường đất còn lại sẽ được ghi nhận trong các quý tiếp theo, đồng thời giữ nguyên khuyến nghị MUA với giá mục tiêu 76.000 đồng/cổ phiếu (upside 23,7%).
- Ngoài ra, chúng tôi đánh giá việc PHR hạ trần sở hữu nhà đầu tư nước ngoài xuống 0% từ ngày 04/08/2026 chỉ là vấn đề thủ tục pháp lý liên quan đến một số ngành nghề hạn chế. Công ty cũng đang tích cực hoàn thiện thủ tục để khôi phục lại room ngoại, và chúng tôi cho rằng vấn đề này không làm thay đổi triển vọng cơ bản của doanh nghiệp.
