26-05-2026VNINDEX1884.18
-1.85-0.10% HNXIndex278.15
6.352.34% UPCOM126.05
-0.06-0.05% VN302027.9
6.180.31% VN1001956.87
6.480.33% HNX30526.25
7.831.51% VNXALL3035.39
9.890.33% VNX503429.39
12.420.36% VNMID2200.38
16.450.75% VNSML1370.15
3.610.26% FED CÓ TĂNG LÃI SUẤT TRONG BỐI CẢNH HIỆN TẠI HAY KHÔNG? VÀ MẶT BẰNG LÃI SUẤT TẠI VIỆT NAM CÓ HẠ NHIỆT TRONG THỜI GIAN TỚI?

26-05-2026
: VDS
: Vĩ mô
: Khoa Bùi
Tags:
- Tân Chủ tịch FED Kenvin Warsh là nhân vật không thích những chuẩn mực Basel áp đặt lên hệ thống ngân hàng, không thích nới lỏng (QE) hay thắt chặt (QT), không thích định hướng chính sách qua truyền thông (forward guidance) và nói chung rất khác những người tiền nhiệm. Vậy lập trường chính sách chủ đạo của Tân Chủ tịch FED là gì? Đó có thể là giảm các chuẩn mực Basel áp lên hệ thống ngân hàng Mỹ kết hợp với sự linh hoạt trong điều hành lãi suất.
- Nhìn chung chính sách của Warsh “im lặng” hơn rất nhiều so với Powell, ít can thiệp thị trường bằng phát biểu, các biện pháp mang nặng tính kỹ thuật hơn rất nhiều. Vậy thì để nhận định xu hướng chính sách của FED trong thời gian tới, chúng ta nên quan sát và chờ đợi thêm tín hiệu từ FED (đặc biệt là theo dõi sát sao các tín hiệu từ bảng cân đối của FED như tốc độ mở rộng, dự trữ cân đối và chỉ số overnight index swap-OIS hơn là chỉ quan tâm Fed’s dot plot hoặc FedWatch Tool).
- Khả năng FED tăng lãi suất trong các cuộc họp từ nay đến cuối năm là thấp do: sự ràng buộc về hỗ trợ thị trường Trái phiếu Chính phủ Hoa Kỳ (UST), lạm phát do chi phí đẩy do chiến sự Iran kéo dài (tăng lãi suất đối với lạm phát dạng này không mang lại hiệu quả) và nếu nâng lãi suất làm đồng USD mạnh lên sẽ buộc Bộ Tài chính Nhật Bản (nước nắm giữ UST nhiều nhất thế giới) can thiệp đồng Yên thông qua bán UST và mua JPY, khi đó lợi suất UST tăng-mâu thuẫn với mục tiêu hỗ trợ ổn định lợi suất UST.
- Về mặt bằng lãi suất trong nước (đặc biệt ở các kỳ hạn dài) sẽ còn chịu nhiều áp lực dù có tín hiệu tích cực như tính lại nguồn tiền gửi Kho bạc có kỳ hạn vào tỷ lệ LDR (20%) để giảm áp lực thanh khoản. Và có lẽ, nhà điều hành cần xem xét sử dụng các công cụ hỗ trợ hệ thống mạnh hơn như tái cấp vốn. Ngoài ra, biến số tỷ giá cần được theo dõi sát sao trong thời gian tới.

Cập nhật KQKD Q1-2026 ngành ngân hàng: Lợi nhuận giữ đà tăng trưởng, áp lực thanh khoản chưa sớm chấm dứt

25-05-2026
: VCB, BID, CTG, MBB, TCB, VPB, ACB, HDB
: Ngân hàng
: Tung Do
Tags:
- Tổng thu nhập hoạt động các ngân hàng niêm yết đạt hơn 190.000 tỷ đồng (+15% YoY và -9% QoQ) và LNTT 1Q26 ngành ngân hàng đạt hơn 94.000 tỷ đồng (+14% YoY và -3% QoQ), hoàn thành khoảng 23% tổng kế hoạch LNTT năm 2026 – tỷ lệ tương đương cùng kỳ. Chúng tôi lưu ý rằng nếu không tính trường hợp giảm LNTT mạnh và đặc thù từ ngân hàng STB và SSB thì tăng trưởng LNTT 1Q26 toàn ngành đạt 22% YoY.
- Các động lực tăng trưởng của doanh thu và lợi nhuận toàn ngành bao gồm: (1) Quy mô tín dụng của nhóm ngân hàng niêm yết đạt gần 15 triệu tỷ đồng, tăng trưởng 19,2% YoY hay 3,5% YTD (so với toàn hệ thống: +18,2% YoY và 3,2% YTD), giúp thúc đẩy thu nhập lãi thuần tăng 17% YoY; (2) Thu nhập hoạt động dịch vụ tăng trưởng mạnh 43% YoY; (3) Thu nhập khác tăng trưởng gần 40% YoY, trong đó thu hồi nợ xấu đã xử lý rủi ro đạt 9.500 tỷ đồng, tăng 21% YoY; (4) Tỷ lệ chi phí hoạt động/doanh thu CIR (lũy kế 12 tháng) giảm 180bps YoY xuống 31,7%.
- Các vấn đề cần chú ý: (1) Tăng trưởng huy động vẫn khó khăn (các ngân hàng niêm yết tăng 1,7% YTD với mức độ phân hóa sâu sắc giữa các ngân hàng do bối cảnh cạnh tranh huy động gay gắt) kéo chi phí vốn toàn ngành tăng 55bps YoY và 30bps QoQ lên 4,2%, và chúng tôi chưa nhìn thấy tín hiệu cho thấy tình hình căng thẳng thanh khoản sớm chấm dứt; (2) Nợ quá hạn tăng mạnh trở lại trong quý đầu năm (NPL hình thành ròng đạt gần 43.000 tỷ đồng – gần gấp 3 lần 1Q26) chịu ảnh hưởng một phần bởi tính chất chu kỳ, không chỉ đẩy tỷ lệ NPL lên gần 2,0% (+13bps QoQ) mà còn kéo theo thoái lãi dự thu và ảnh hưởng gián tiếp tới NIM (thu hẹp 15bps QoQ xuống 2,90%).
- Áp lực thanh khoản hệ thống ngân hàng và xu hướng tăng của lãi suất được dự báo chưa sớm chấm dứt, khi các yếu tố nền tảng vẫn chưa có dấu hiệu cải thiện rõ rệt. Tính đến cuối tháng 4/2026, TTHĐ chỉ đạt 2,2% YTD trong khi TTTD đã là 4,4% YTD (các NHTM không còn bị hạn chế trần tăng trưởng từ 2Q26), cho thấy khoảng cách giữa huy động-tín dụng tiếp tục bị kéo giãn. Bên cạnh đó, thặng dư ngân sách lũy kế đến hết tháng 4/2026 tiếp tục leo thang lên mức 445.000 tỷ đồng - con số phản ánh tiến độ giải ngân đầu tư công vẫn còn chậm so với kế hoạch, khiến lượng tiền lớn vẫn chưa được luân chuyển trở lại thị trường. Chúng tôi kỳ vọng áp lực thanh khoản có thể hạ nhiệt đáng kể trong nửa cuối năm 2026 nếu tiến độ giải ngân đầu tư công có sự bứt phá mạnh mẽ hơn, tạo trạng thái thâm hụt ngân sách - Đây sẽ là tín hiệu quan trọng nhất cần theo dõi để đánh giá thời điểm áp lực chi phí vốn của các ngân hàng bắt đầu dịu lại.
- Việc nợ xấu hình thành ròng bật tăng trong 1Q26 có thể chưa phản ánh chất lượng nợ của toàn hệ thống xấu đi do tập trung vào số ít các ngân hàng và xu hướng nợ xấu tăng trở lại vào Q1 cũng bị ảnh hưởng bởi tính chất mùa vụ khi thanh khoản của các doanh nghiệp có thể bị gián đoạn sau kỳ nghỉ Tết, chưa kể đến tính chất hệ quả của hành vi quản trị báo cáo nợ xấu trong Q4 hàng năm. Tuy nhiên, đà tăng nợ xấu hình thành ròng vẫn cần được theo dõi trong Q2/2026 trước rủi ro khả năng trả nợ của KH vay bị ảnh hưởng từ mức tăng mạnh của lãi suất, và tác động gián tiếp từ cuộc chiến Trung Đông kéo dài tới chi phí sản xuất đầu vào, lạm phát,….

VHC – Thị trường Mỹ dẫn dắt đà hồi phục Q1/2026

22-05-2026
: VHC
: Thủy sản
: Hiển Lê
Tags: VHC
- Q1/2026, doanh thu thuần và LNST-CTM lần lượt tăng 12% YoY và 37,8% YoY, dẫn dắt bởi tăng trưởng của các sản phẩm giá trị gia tăng (+63% YoY). Cụ thể, doanh thu mảng fillet đông lạnh tăng 14% YoY, phụ phẩm tăng 17%, C&G tăng 21% và Sa Giang tăng 16% YoY. Về thị trường tiêu thụ, Mỹ tiếp tục là động lực chính với doanh thu tăng 40% YoY, trong khi EU tăng 6% YoY và Trung Quốc giảm nhẹ 3% YoY.
- Biên lợi nhuận gộp Q1/2026 cải thiện lên 14,6% (từ 12,7% cùng kỳ) nhờ giá bán tăng 9% YoY, nhanh hơn mức tăng 4% YoY của giá cá nguyên liệu mua ngoài. Tỷ lệ chi phí bán hàng & quản lý/doanh thu duy trì ổn định ở mức 5%. Từ đó, biên lợi nhuận ròng cũng mở rộng lên 9% (từ 7% cùng kỳ).
- Cho cả năm 2026, chúng tôi dự phóng doanh thu và LNST lần lượt đạt 12.507 tỷ đồng (+4% YoY) và LNST-CTM đạt 1.526 tỷ đồng (+8% YoY). EPS tương ứng là 6.798 đồng. Chúng tôi duy trì giá mục tiêu 73.300 đồng/cp, tương ứng khuyến nghị MUA đối với cổ phiếu VHC.

Thị trường Trái phiếu doanh nghiệp: Áp lực đáo hạn còn lớn trong môi trường lãi suất neo cao

22-05-2026
: VDS
: Vĩ mô
: Khoa Bùi
Tags:
- Một điểm nhấn quan trọng của thị trường TPDN trong quý I/2026 là sự trỗi dậy của các doanh nghiệp phi ngân hàng. Nhóm này dẫn dắt giá trị phát hành, đóng góp tới 70,4% tổng giá trị (lĩnh vực bất động sản dẫn đầu). Ngược lại, khối ngân hàng, vốn là nhóm phát hành chính của thị trường, chỉ đóng góp 29,6% giá trị trong quý I/2026.
- Bên cạnh đó, mặt bằng lãi suất biến động đã tác động rõ rệt đến chi phí vốn. Lãi suất phát hành gia tăng so với quý trước ở hai nhóm chính là tổ chức tín dụng (tăng 67,8 điểm cơ bản) và bất động sản (tăng 40,0 điểm cơ bản).
- Tại thị trường thứ cấp, lợi suất trái phiếu (YTM) bình quân cũng ghi nhận diễn biến tương ứng, phản ánh kỳ vọng của nhà đầu tư về lãi suất và mức bù rủi ro cần thiết trước áp lực thanh khoản các kỳ hạn gần. Mặt bằng lãi suất biến động đã tác động rõ rệt đến thị trường TPDN, thể hiện qua việc cả lãi suất phát hành và lợi suất giao dịch (YTM) đều gia tăng. Trong quý I/2026, các tổ chức phát hành đã phải chấp nhận mức lãi suất phát hành cao hơn khi phát hành trái phiếu, phản ánh chi phí vốn gia tăng trong bối cảnh điều kiện thị trường kém thuận lợi.
- Áp lực đáo hạn trong thời gian tới là rất lớn với 42,2 nghìn tỷ đồng trong quý II/2026 và 73,3 nghìn tỷ đồng trong quý III/2026, tập trung ở lĩnh vực bất động sản. Điều này đòi hỏi các tổ chức phát hành cần chủ động cân đối dòng tiền hoặc đàm phán với trái chủ để xử lý nghĩa vụ nợ trong thời gian tới.
- Bộ Tài chính đã lấy ý kiến Dự thảo Nghị định về chào bán trái phiếu riêng lẻ thay thế cho Nghị định 153/2020. Trong tương lai, khung chính sách mới phân định rõ hai hình thức phát hành (đại chúng và riêng lẻ) được kỳ vọng sẽ thúc đẩy kênh đại chúng trở thành kênh huy động vốn chủ đạo và bền vững hơn. Theo định hướng này, nhà đầu tư cá nhân được khuyến khích tham gia chủ yếu vào kênh phát hành đại chúng, nơi có yêu cầu chặt chẽ hơn về xếp hạng tín nhiệm và cơ chế bảo vệ nhà đầu tư, trong khi kênh riêng lẻ tiếp tục dành cho nhà đầu tư chuyên nghiệp với nguyên tắc tự chịu trách nhiệm

PNJ – KQKD 1Q26: Sự linh hoạt tạo nên tăng trưởng

21-05-2026
: PNJ
: Bán lẻ
: Lan Anh Tran
Tags: PNJ
- Doanh thu 1Q26 đạt 17.245 tỷ đồng (+79,0% yoy), vượt 27% kỳ vọng của chúng tôi do doanh thu mảng vàng 24K tăng gấp 3 lần cùng kỳ. Doanh thu bán lẻ trang sức đạt 8.191 tỷ đồng (+22,5% svck; đóng góp 47,5% tổng doanh thu thuần), phù hợp với kỳ vọng.
- LNST-CTM Q1 đạt 1.467 tỷ đồng (+116,5% svck, phù hợp với kỳ vọng), tương ứng với biên ròng đạt 8,5% (+1,5 pps svck). Kết quả tích cực này chủ yếu đến từ: (1) biên lợi nhuận gộp của cả mảng trang sức bán lẻ và vàng 24K cải thiện khoảng 1-2 pps từ mức nền cao cùng kỳ (theo ước tính của chúng tôi), nhờ xu hướng tăng mạnh của giá vàng trong Q1 trong khi doanh nghiệp đã chủ động tích lũy nguyên liệu từ 4Q25 thông qua chính sách “thu – đổi”; và (2) Ngoài chi phí lương thưởng, các chi phí hỗ trợ bán hàng phát sinh trong mùa cao điểm nhìn chung chỉ đi ngang svck, trong khi doanh thu tăng trưởng mạnh hơn đáng kể giúp tỷ lệ chi phí BH&QLDN trên doanh thu tiết giảm 3,1 pps svck.
- Chúng tôi đang cân nhắc nâng dự phóng doanh thu thuần năm 2026 của PNJ, chủ yếu điều chỉnh tăng trưởng doanh thu mảng vàng 24K khi KQKD Q1 có phần tích cực hơn ở mảng này. Tuy vậy, dự báo về LNST sẽ không có nhiều thay đổi với LNST sơ bộ giữ ở mức 3.350 – 3.400 tỷ đồng (do biên gộp mảng vàng 24K rất mỏng), tương ứng EPS dự phóng đạt 6.500 – 6.600 đồng. Giá mục tiêu chúng tôi đưa ra là 90.400 đồng/CP (giá điều chỉnh sau phát hành cổ phiếu thưởng với tỷ lệ 2:1, chốt danh sách ngày 24/04/2026), tương đương với khuyến nghị MUA (+39%), so với giá đóng cửa tại ngày 21/05/2026.

MSN - Câu chuyện bán lẻ Winmart & khoáng sản Tungsten là tâm điểm 2026

20-05-2026
: MSN
: Bán lẻ
: Hưng Nguyễn
Tags: MSN
- MSN công bố KQKD Q1-2026 ấn tượng với doanh thu thuần đạt 24.020 tỷ đồng (+3,3% QoQ, +27,1% YoY), LNST Cty mẹ đạt 1.246 tỷ đồng (-15,5% QoQ, +274,6% YoY), nhưng dưới kỳ vọng chuyên viên 35% do khoản chi phí trích lập dự phòng liên quan đến khoản đầu tư Trusting Social (MSN chiếm 25,1% sở hữu) khoảng ~409 tỷ đồng theo ước tính chúng tôi, ghi nhận vào chi phí QLDN của Công ty (đạt 1.369 tỷ đồng, +61,2% YoY).
- Nhìn chung, giá cổ phiếu MSN gần như đi ngang từ đầu năm đến nay, tương ứng PE trailing 23,5x và PE forward (tính tới đến hết nửa đầu 2026 theo kế hoạch Công ty) 20,2x; hàm ý định giá cổ phiếu hiện tại có vẻ rẻ so với triển vọng tăng trưởng (trên 60,0% YoY cho giai đoạn 2026/27F theo dự phóng hiện tại chúng tôi).

GDA – Thị trường nội địa tiếp tục là điểm tựa

19-05-2026
: GDA
: Nguyên vật liệu
: Đỗ Thạch Lam, CFA
Tags:
- Trong quý 1/2026, GDA ghi nhận doanh thu 3.589 tỷ đồng (-10%YoY, +6%QoQ), với sản lượng bán hàng tôn mạ ghi nhận đạt 189 nghìn tấn (-4%YoY, +17%QoQ). Sản lượng bán hàng tuy suy giảm so với cùng kỳ 2025 (chủ yếu do sản lượng xuất khẩu suy giảm 42%YoY), nhưng doanh nghiệp đã duy trì được vị thế tại thị trường nội địa - với sản lượng đạt 143 nghìn tấn (+22% YoY, +4%QoQ, thị phần đứng thứ 02).
Doanh nghiệp dự kiến trả cổ tức 2025 bằng tiền tỷ lệ 10% tiền mặt (1.000 đồng/cp, chi trả trong 2026) và bằng cổ phiếu tỷ lệ 10% (100 cổ phiếu được nhận 10 cổ phiếu mới). Công ty tiếp tục duy trì chính sách cổ tức tiền mặt (1.000 đồng/cổ phiếu, với tỷ suất cổ tức ~7%), trong khi chính sách cổ tức bằng cổ phiếu kỳ vọng giúp tăng số lượng cổ phiếu lưu hành và tăng thanh khoản cho cổ phiếu. Ngoài ra doanh nghiệp thực hiện trình thông qua các thay đổi lớn trong Điều lệ - là một trong các điều kiện cần thiết để doanh nghiệp hoàn thiện hồ sơ để niêm yết trên HOSE.
Hiện nay giá mục tiêu của GDA được duy trì ở 21.900 đồng/cp (upside +59%), cổ phiếu đang giao dịch ở mức P/B đạt 0,5x – là mức chiết khấu lớn so với tài sản và vị thế của doanh nghiệp tại thị trường nội địa

Tại sao Ngân hàng không thể nắm quá nhiều Trái phiếu Chính phủ? và Điểm nghẽn của thị trường Trái phiếu Chính phủ

18-05-2026
: VDS
: Vĩ mô
: Khoa Bùi
Tags:
- Nhu cầu đối với TPCP của ngân hàng thương mại (NHTM) là lớn vì có tính thanh khoản cao. Khi thị trường không căng thẳng thông qua repo hoặc OMO có thể đổi thành nguồn để cân đối thanh khoản. Đồng thời, NHTM cầm TPCP không những ảnh hưởng tốt tới LCR do được tính vào HQLA, mà lại còn an toàn hơn so với cho vay thông thường.
- Tuy nhiên, NHTM việc nắm nhiều TPCP sẽ dẫn đến 4 mất cân đối nghiêm trọng như sau: (1) Mất cân đối thanh khoản (Liquidity mismatch): nhìn vào thì TPCP rất thanh khoản, tuy nhiên nếu lãi suất tăng thì TPCP sẽ mất giá, mặc dù khi ghi nhận ở sổ ngân hàng ( bank book) thì sẽ hạn chế rủi ro lãi suất và không phản ánh lên P&L ngay. Tuy nhiên nếu mặt bằng lãi suất tăng mạnh, NH sẽ phải chọn giữa bán TPCP (chịu rủi ro lãi suất) hoặc tăng lãi suất huy động để không bị rút tiền. Nếu chọn bán TPCP thì sẽ bán không được giá kể cả repo. Nếu repo 1 danh mục thì tỷ lệ chiết khấu (haircut) và lãi suất repo sẽ cao chưa kể còn phải tùy thuộc vào mức độ thanh khoản của mã TPCP, còn nếu chọn tăng lãi suất huy động thì lỗ carry càng mạnh; (2) Mất cân đối tái định giá (Repricing mismatch); (3) Mất cân đối kỳ hạn (Maturity mismatch); (4) Mất cân đối vốn (Capital mismatch): với những NH vốn mỏng thì việc giữ 1 danh mục toàn trái phiếu có thể khiến cho vốn không hấp thụ được lỗ dù không phải là nợ xấu.
- Tình trạng "Negative Carry" (chi phí vốn để duy trì trái phiếu cao hơn lợi suất đầu tư) đã triệt tiêu động lực kinh doanh của khối ngân hàng thương mại, khiến họ chỉ mua trái phiếu nhằm mục đích đảm bảo các chỉ số an toàn thanh khoản theo quy định thay vì tìm kiếm lợi nhuận thông qua giao dịch chênh lệch giá (và cũng không thể gia tăng lượng nắm giữ vì đối mặt các rủi ro cân đối). Với lợi suất đi ngang quanh mốc 4% trong khi chi phí vốn đắt đỏ (với lãi suất sàn là lãi suất OMO: 4.5%), thị trường trái phiếu Chính phủ hiện đang rơi vào trạng thái bế tắc, rất cần những cơ chế điều tiết linh hoạt hơn hoặc một "cú hích" chính sách đủ mạnh để khơi thông nguồn lực tài chính cho các dự án đầu tư công trọng điểm của Nhà nước.
- Sự khó khăn của thị trường trong nước không chỉ bắt nguồn từ những giới hạn nội tại mà còn chịu sức ép không nhỏ từ môi trường lãi suất toàn cầu, trong đó thị trường Mỹ đóng vai trò chi phối.

GMD – Cụm cảng phía Nam tiếp tục là động lực tăng trưởng trong Q1-FY26

15-05-2026
: GMD
: Cảng biển
: Cao Ngọc Quân
Tags: GMD Cảng biển
- Trong Q1-FY26, doanh thu và LNST cổ đông công ty mẹ (LNST-CĐM) của GMD lần lượt đạt 1.452 tỷ đồng (+14% YoY) và 534 tỷ đồng (+33% YoY). Sản lượng xếp dỡ container tại các cụm cảng chính là Nam Đình Vũ, Bình Dương & Phước Long PIP và Gemalink lần lượt đạt 328 nghìn TEU (-8% YoY), 382 nghìn TEU (+12% YoY) và 523 nghìn TEU (+19% YoY).
- Dự phóng cho năm 2026, doanh thu thuần và LNST-CĐM lần lượt đạt 6.341 tỷ đồng (+7% YoY) và 2.234 tỷ đồng (+27% YoY). EPS năm 2026 là 5.238 VNĐ. Trong giai đoạn gần đây cổ phiếu GMD đã tăng giá tích cực từ 73.700 VNĐ/cp lên 81.600 VNĐ/cp (giá đóng cửa ngày 13/05/2026) nên dư địa tăng giá bị thu hẹp từ 26% tại báo cáo gần nhất về mức 13%. Chúng tôi khuyến nghị TÍCH LŨY với giá mục tiêu 90.300 VNĐ/cổ phiếu cùng cổ tức tiền mặt là 2.200 VNĐ/cổ phiếu.

NLG – Doanh số bán hàng ấn tượng trong 4T2026

14-05-2026
: NLG
: Bất động sản
: Giao Nguyễn
Tags: NLG
- KQKD Q1/2026 doanh thu được hỗ trợ từ chuyển nhượng đất thương mại cho dự án trường học tại Waterpoint và đóng góp 490 tỷ đồng, hỗ trợ bù đắp cho sự hụt hơi của mảng bàn giao bất động sản. Biên lợi nhuận gộp ghi nhận mức 30%, LNST-CĐM tương ứng đạt 68 tỷ đồng (-37% YoY).
- Doanh số bán hàng 4T2026 là điểm sáng, đạt 3.507 tỷ đồng, tăng gấp 4 lần so với Q1/2025. Đặc biệt, dự án Sol Garden (Hải Phòng) ghi nhận sức hấp thụ mạnh mẽ khi mang về hơn 1.200 tỷ đồng chỉ sau 20 ngày mở bán. Doanh nghiệp đặt kế hoạch năm 2026 với mục tiêu Presales kỷ lục 23.000 tỷ đồng (+94% YoY) sẽ tạo ra lượng backlog khổng lồ cho giai đoạn 2-3 năm tới, trong khi lợi nhuận năm 2026 dự kiến đi ngang do độ trễ bàn giao.
- NLG là doanh nghiệp BĐS với những lợi thế về: 1/ Quỹ đất sạch quy mô lớn tọa lạc tại các trục hạ tầng trọng điểm, hưởng lợi từ xu hướng dịch chuyển dân cư ra khỏi trung tâm đối với nhu cầu ở thực; 2/ Tận dụng sự đa dạng hóa phân khúc trong giỏ hàng, doanh nghiệp đẩy mạnh bán hàng và tích lũy lượng backlog lớn. Chúng tôi xác định giá mục tiêu cho cổ phiếu NLG là 37.000 đồng/cổ phiếu, tương ứng với khuyến nghị MUA dành cho nhà đầu tư dài hạn.

HDB – Tín dụng và huy động tích cực, tuy nhiên NIM thu hẹp đáng kể dưới áp lực chi phí vốn và nợ xấu gia tăng

13-05-2026
: HDB
: Ngân hàng
: Trang Tô
Tags:
- LNTT Q1/26 hợp nhất đạt hơn 6,1 nghìn tỷ đồng (-7% QoQ, +14% YoY), hoàn thành 19% kế hoạch cả năm (30,1 nghìn tỷ đồng, +41% YoY). Trong đó, NH mẹ đóng góp gần 5,7 nghìn tỷ đồng (-7% QoQ, +13% YoY), tương đương 93% LNTT hợp nhất. HD Saison đạt hơn 400 tỷ đồng (-9% QoQ, +29% YoY). KQKD Q1/26 của HDB nổi bật với kết quả tăng trưởng tín dụng (NH mẹ: 10,1%) và tăng trưởng huy động tiền gửi KH (NH mẹ: 10,8%) tích cực. Tuy nhiên, NIM và chất lượng tài sản của HDB suy yếu, chịu ảnh hưởng từ diễn biến lãi suất leo cao. Đồng thời, việc thiếu vắng các khoản thu nhập đột biến (so với 2025) làm hạn chế tăng trưởng lợi nhuận của ngân hàng.
- Kế hoạch năm 2026, HDB đặt mục tiêu thách thức cho LNTT (+41% YoY). Ngân hàng dự kiến NIM thu hẹp 20-30 bps YoY trước áp lực lãi suất huy động tăng. Tuy nhiên, tăng trưởng tín dụng (mục tiêu +37%) và thu nhập ngoài lãi (mục tiêu +40% YoY), sẽ là động lực cho tăng trưởng tổng thu nhập hoạt động.
- Định giá hiện tại của chúng tôi cho cổ phiếu HDB là 31.200 đồng/cp, tương đương mức sinh lời 13% so với giá đóng cửa ngày 13/5/2026. Chúng tôi sẽ cập nhật lại chi tiết dự phóng, định giá trong các báo cáo tới.

Cập nhật giá hạt nhựa PVC và triển vọng kinh doanh 2026 của BMP

12-05-2026
: BMP, NTP
: Nguyên vật liệu
: Dương Trần
Tags: Nhựa
- Tính đến tháng 5/2026, giá hạt PVC tại Đông Nam Á, Trung Quốc và Việt Nam đã đồng loạt điều chỉnh giảm 14-20% so với mức đỉnh hồi tháng 3. Đà giảm này chủ yếu chịu tác động từ Trung Quốc do kết thúc chu kỳ đẩy hàng xuất khẩu để hưởng thuế, áp lực cung vượt cầu, và lợi thế chi phí rẻ của PVC gốc than tạo dư địa hạ giá cạnh tranh.
- Dù đang hạ nhiệt, mặt bằng giá PVC được dự báo khó lùi về vùng đáy lịch sử 600 USD/tấn do giá dầu và ethylene vẫn neo cao trước căng thẳng tại Trung Đông. Đồng thời, việc Trung Quốc ngừng hoàn thuế VAT 13% sẽ tiếp tục làm nới rộng chênh lệch giá bán giữa quốc gia này và phần còn lại của khu vực.
- Chúng tôi duy trì dự phóng giá PVC Đông Nam Á trung bình năm 2026 ở mức 850 USD/tấn (+20% YoY), kéo theo ước tính lợi nhuận sau thuế của công ty mẹ BMP đạt 1.165 tỷ đồng (-5% YoY). Giá mục tiêu của cổ phiếu sẽ sớm được công bố chi tiết trong báo cáo cập nhật kết quả kinh doanh sắp tới.
